16:36 | 09-10-2026

Tiêu chuẩn hoá an toàn thực phẩm: Công cụ chiến lược thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững

Tiêu chuẩn hóa an toàn thực phẩm không phải là rào cản kìm hãm sự sáng tạo trong sản xuất thực phẩm mà chính là cơ sở để chuyển đổi hệ thống lương thực theo hướng bền vững hơn, góp phần thúc đẩy tiến trình đạt được các chỉ tiêu phát triển bền vững cốt lõi.

Tóm tắt

Thực phẩm không những cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho cơ thể con người mà còn là nguồn lây nhiễm nhiều bệnh tật khác nhau. Do vậy việc cung cấp thực phẩm dinh dưỡng và an toàn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển toàn diện và sức khỏe cộng đồng.

Tuy nhiên việc đảm bảo thực phẩm an toàn và dinh dưỡng đang đối diện nhiều thách thức do sự tăng dân số thế giới, quá trình toàn cầu hóa chuỗi cung ứng và biến đổi khí hậu. Điều này góp phần làm giảm tính bền vững của hệ thống thực phẩm và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

Bài viết này nhằm phân tích vai trò của tiêu chuẩn hoá (TCH) an toàn thực phẩm (ATTP) trong việc đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn và góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững (SDG). Kết quả cho thấy TCH đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi hệ thống thực phẩm theo hướng bền vững hơn, giúp đẩy nhanh tiến trình đạt được các SDG của Liên Hợp Quốc.

Từ khoá: Tiêu chuẩn hoá, an toàn thực phẩm, chuỗi cung ứng thực phẩm, phát triển bền vững.

1. Giới thiệu

Chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu trong thế kỷ 21 đang trải qua những biến động sâu sắc dưới tác động của biến đổi khí hậu, sự gia tăng dân số và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Trong khi đó, hệ thống thực phẩm hiện đang đối mặt với một nghịch lý: công nghệ nông nghiệp và năng lực sản xuất lương thực đạt được những thành tựu chưa từng có nhưng gánh nặng từ tình trạng mất ATTP và sự suy thoái tài nguyên sinh thái lại ngày một gia tăng.

Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khi dân số thế giới dự báo vượt 9,1 tỷ người vào năm 2050, sản lượng lương thực cần tăng tối thiểu 70 % [1]. Tuy nhiên, việc chạy đua tăng sản lượng không đi kèm kiểm soát chất lượng chặt chẽ, đặc biệt là vấn đề ATTP đã làm cho chuỗi cung ứng rơi vào tình trạng rủi ro cao trước các mối nguy sinh học, hóa học và vật lý; đồng thời gia tăng tần suất xuất hiện của các bệnh truyền qua thực phẩm.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh lây truyền qua thực phẩm đang gây ra gánh nặng y tế và kinh tế vô cùng lớn. Mỗi năm, toàn thế giới có trung bình khoảng 866 triệu ca mắc bệnh và khoảng 1 triệu ca tử vong do thực phẩm bị ô nhiễm sinh học hoặc hóa chất độc hại [2]. Ngoài tác động đến sức khỏe, các bệnh lây truyền qua thực phẩm cũng gây thiệt hại khoảng 310 tỷ USD do sụt giảm năng suất lao động (thời gian nghỉ làm vì ốm đau). Khi điều chỉnh tác động kinh tế dựa trên sự khác biệt về chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia, con số ước tính về thiệt hại năng suất đã tăng lên mức 647 tỷ USD [2].

Dưới góc nhìn của khoa học thực phẩm, mất ATTP không chỉ là vấn đề nội bộ ngành y tế công cộng mà là một lỗ hổng mang tính hệ thống làm suy yếu các nỗ lực phát triển bền vững của bất cứ quốc gia nào. Chính vì vậy, bài viết này nhằm mục tiêu làm rõ cơ chế mà TCH hỗ trợ kiểm soát an toàn thực phẩm và phân tích sự đóng góp của các cơ chế này đối với một số SDG trọng tâm.

2. Tiêu chuẩn hoá và việc cung cấp thực phẩm an toàn

Theo TCVN 6450:2007 (ISO/IEC Guide 2:2004)[3], tiêu chuẩn hóa là hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và lặp đi lặp lại đối với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định. Hoạt động này bao gồm quá trình xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn nhằm nâng cao mức độ thích ứng của sản phẩm, quá trình và dịch vụ với những mục đích đã định, ngăn ngừa rào cản trong thương mại và tạo thuận lợi cho sự hợp tác về khoa học, công nghệ.

Hoạt động sản xuất, kinh doanh yêu cầu phải có các loại tài liệu chuẩn như tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm thực hành và quy chuẩn kỹ thuật. Dựa trên tính chất áp dụng (tự nguyện hay bắt buộc), các tài liệu trên được phân loại thành tiêu chuẩn tự nguyện và quy chuẩn kỹ thuật hoặc yêu cầu pháp luật bắt buộc.

 

Ảnh minh hoạ.

Tiêu chuẩn về bản chất là tập hợp các yêu cầu, quy định kỹ thuật hoặc hướng dẫn được xây dựng nhằm sử dụng thống nhất cho một đối tượng cụ thể. Trong hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, tiêu chuẩn về nguyên tắc là tự nguyện áp dụng, trừ trường hợp nội dung của tiêu chuẩn được viện dẫn hoặc được quy định áp dụng bắt buộc trong một văn bản pháp luật hoặc quy chuẩn kỹ thuật có liên quan.

Khác với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật là văn bản quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, quá trình, dịch vụ hoặc đối tượng liên quan phải đáp ứng để bảo đảm an toàn, sức khỏe con người, môi trường và các lợi ích công cộng khác. Vì có tính chất quản lý nhà nước, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng bắt buộc đối với các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh.

Ngoài ra, các yêu cầu bắt buộc khác có thể xuất phát từ luật, nghị định, thông tư và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Chẳng hạn, cơ sở sản xuất thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu pháp luật về điều kiện bảo đảm ATTP; nguyên liệu và sản phẩm phải đáp ứng các giới hạn liên quan đến chất ô nhiễm, vi sinh vật, phụ gia thực phẩm và các yêu cầu an toàn khác khi thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản tương ứng.

Trong công nghiệp thực phẩm, việc áp dụng các tiêu chuẩn như Codex Alimentarius, thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thực hành sản xuất tốt (GMP), phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP), ISO 22000 và BRCGS (Brand Reputation Compliance Global Standards) đóng vai trò cốt lõi trong việc nhận diện, ngăn ngừa và kiểm soát các mối nguy vật lý, hóa học, sinh học, từ đó góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng vì các lý do:

(i) Chuyển đổi tư duy từ "kiểm tra" sang "chủ động phòng ngừa" trong toàn chuỗi cung ứng "từ nông trại đến bàn ăn"; (ii) Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch; (iii) Chuẩn hóa quy trình và giảm thiểu sai lỗi do con người và (iv) Tối ưu hóa chuỗi cung ứng và tạo lợi thế cạnh tranh.

3. Sản xuất thực phẩm an toàn và phát triển bền vững

Khái niệm "Phát triển bền vững" bắt nguồn từ Báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), là "sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai". Phát triển bền vững là quan trọng vì nó thừa nhận rằng môi trường, nền kinh tế và xã hội phụ thuộc lẫn nhau và phải đạt sự cân bằng để đảm bảo phúc lợi lâu dài cho tất cả mọi người.

Khi áp dụng vào lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm, tính bền vững đòi hỏi một sự cân bằng động giữa ba khía cạnh: kinh tế (đảm bảo sinh kế cho người sản xuất và khả năng tiếp cận với giá cả phải chăng cho người tiêu dùng), xã hội (an sinh xã hội, bình đẳng và sức khỏe cộng đồng) và môi trường (bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu phát thải khí nhà kính và bảo vệ tài nguyên đất, nước). Nhằm đạt sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu, 17 mục tiêu phát triển bền vững tổng quát đã được thông qua vào năm 2015 tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững, kêu gọi hành động toàn cầu nhằm xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và khí hậu trái đất cũng như đảm bảo mọi người ở khắp mọi nơi có thể tận hưởng hòa bình và thịnh vượng [4].

Một hệ thống thực phẩm không thể bền vững nếu sản phẩm sản xuất ra lại gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, tàn phá hệ sinh thái do lạm dụng hóa chất hoặc làm phát sinh nhiều rác thải hữu cơ do hư hỏng trong quá trình vận chuyển và phân phối. Tiêu chuẩn hóa ATTP chính là yếu tố quan trọng để chuyển đổi hệ thống thực phẩm theo hướng bền vững hơn, góp phần đẩy nhanh tiến trình đạt được các chỉ tiêu phát triển bền vững cốt lõi. Mối quan hệ tương hỗ giữa ATTP, công cụ TCH và phát triển bền vững được trình bày như trong Bảng 1.

Bảng 1 - Khung phân tích tác động của công cụ tiêu chuẩn hóa đến an toàn thực phẩm và phát triển bền vững

Công cụ TCH

Cơ chế kiểm soát

Kết quả ATTP

Tác động bền vững

GAP – Thực hành nông nghiệp tốt

Kiểm soát đất, nước, giống, phân bón, thuốc BVTV, vệ sinh và thu hoạch.

Giảm nhiễm hóa học, vi sinh và vật lý từ vùng nguyên liệu.

Sản xuất nông nghiệp an toàn, sử dụng tài nguyên hợp lý → SDG 2, SDG 3, SDG 6, SDG 12, SDG 15.

GMP/GHP

Kiểm soát vệ sinh nhà xưởng, thiết bị, con người, môi trường.

Giảm nhiễm chéo và nhiễm vi sinh.

Cải thiện vệ sinh thực phẩm, giảm thất thoát và sản phẩm không phù hợp → SDG 3, SDG 12.

HACCP

Phân tích mối nguy và kiểm soát CCP/OPRP theo mức độ rủi ro.

Phòng ngừa và kiểm soát các mối nguy trọng yếu.

Chuyển từ xử lý sự cố sang phòng ngừa, giảm lãng phí → SDG 3, SDG 12.

ISO 22000

Hệ thống FSMS kết hợp PRP, phân tích mối nguy, OPRP/CCP, xác minh, cải tiến và truy xuất.

Kiểm soát có hệ thống các mối nguy ATTP.

Nâng cao hiệu quả quản trị, giảm rủi ro và lãng phí → SDG 3, SDG 8, SDG 12.

BRCGS Food Safety

Hệ thống quản lý ATTP dựa trên HACCP, kiểm soát nhà cung cấp, quy trình, truy xuất và đánh giá.

Tăng tính nhất quán và khả năng kiểm soát ATTP toàn chuỗi.

Giảm sự cố, giảm sản phẩm lỗi, tăng khả năng tiếp cận thị trường → SDG 3, SDG 8, SDG 12.

Tiêu chuẩn nguyên liệu/ specification

Quy định chỉ tiêu an toàn, chất lượng và yêu cầu nhà cung cấp.

Kiểm soát mối nguy ngay từ đầu vào.

Giảm nguyên liệu không phù hợp, tăng hiệu quả chuỗi cung ứng → SDG 3, SDG 8, SDG 12.

Quản lý chất ô nhiễm thực phẩm

Kiểm soát kim loại nặng, độc tố, dư lượng thuốc BVTV, mycotoxin, chất nhiễm hóa học.

Giảm phơi nhiễm hóa học đối với người tiêu dùng.

Bảo vệ sức khỏe, nguồn nước và hệ sinh thái → SDG 3, SDG 6, SDG 12.

Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm

Xác lập các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh, dinh dưỡng và cảm quan.

Bảo đảm sản phẩm phù hợp yêu cầu công bố.

Tăng giá trị sản phẩm, giảm sản phẩm không phù hợp → SDG 8, SDG 12.

Bao bì và bảo quản

Kiểm soát vật liệu bao bì, nhiệt độ, RH, thời gian và điều kiện kho

Duy trì chất lượng và hạn chế tái nhiễm/hư hỏng

Giảm tổn thất, lãng phí thực phẩm và sử dụng tài nguyên hiệu quả → SDG 12.

Truy xuất nguồn gốc

Xác định nguồn gốc lô hàng, dòng nguyên liệu và sản phẩm

Khoanh vùng và thu hồi nhanh khi có sự cố

Giảm phơi nhiễm, giảm lượng thực phẩm phải tiêu hủy → SDG 3, SDG 12.

Nguồn: Đề xuất của tác giả

4. Kết luận

Tiêu chuẩn hóa an toàn thực phẩm không phải là rào cản kìm hãm sự sáng tạo trong sản xuất thực phẩm mà chính là cơ sở để chuyển đổi hệ thống lương thực theo hướng bền vững hơn, góp phần thúc đẩy tiến trình đạt được các chỉ tiêu phát triển bền vững cốt lõi. Đối với các quốc gia đang phát triển có thế mạnh về nông nghiệp như Việt Nam, việc đầu tư bài bản vào hạ tầng TCH không chỉ là giải pháp cho bài toán an sinh xã hội, mà còn là chiến lược định vị thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế.

Theo Vietq.vn

GÓP Ý - TRAO ĐỔI

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HÀ TĨNH

ReCaptcha:

Bình luận